Thức tỉnh - 5. CHÚNG TA ĐANG NÓI VỀ TÂM LÝ TRONG KHÓA LINH ĐẠO NÀY CHĂNG?

Phải chăng khoa tâm lý thực tiễn hơn linh đạo? Không. Không có gì thực tiễn hơn linh đạo. Một tay tâm lý gia mày mò thì có thể làm được chuyện gì? Giỏi lắm anh ta chỉ làm giảm bớt dồn nén nơi người ta. Thật vậy, bản thân tôi cũng là một nhà tâm lý và tôi làm công tác tâm lý trị liệu. Đôi lúc trong tôi xảy ra một sự giằng co mãnh liệt vì phải chọn lựa giữa khoa tâm lý và linh đạo. Không biết điều đó có ý nghĩa gì đối với ai đang ở đây không. Phần tôi thì trong nhiều năm trời tôi đã chẳng thấy điều đó có ý nghĩa gì cả.
Tôi sẽ giải thích ra nhé. Trong nhiều năm tôi không hề băn khoăn gì cho tới ngày thình lình tôi khám phá ra điều này là: người ta phải thấm thía đủ cái kinh nghiệm đau khổ trong một tương quan nào đó thì người ta mới có thể thoát khỏi được ảo tưởng đối với mọi mối tương quan. Đó là một ý nghĩ khiến người ta phải rùng mình. Nhưng người ta phải thấm thúa đủ cái kinh nghiệm đai khổ trong mọt tương quan trước khi người ta thức tỉnh và thốt lên: “Tôi đã chán ngán lắm rồi. Chắc phải có cách sống nào tốt hơn là cách sống phụ thuộc vào một kẻ khác”. Còn tôi, trong vai trò một nhà tâm lý trị kiệu, tôi đã làm gì? Người ta mang đến cho tôi những vấn đề quan hệ rắc rối cần giải quyết – đôi lần tôi cũng giúp được họ. Song thỉnh thoảng tôi lấy làm tiếc phải nói rằng điều tôi làm cho họ không phải là một sự giúp đỡ, bới nó vẫn cứ giữ người ta trong tình trạng ngủ mê. Nếu được có lẽ người ta cần phải có kinh nghiệm đau khổ thêm một chút nữa chăng. Nếu được có lẽ người ta cần phải xuống tận đáy vực sâu để rồi thốt lên “Tôi chán ngán cùng cực rồi”. Thật vậy, chỉ khi nào bạn đau nỗi đau của chính bạn thì lúc đó bạn mới thoát khỏi nó được. Phần đông người ta đến gặp các bác sĩ tâm thần hay các nhà tâm lý chỉ là để tìm cách giảm đau. Tôi nhắc lại – chỉ là để tìm cách giảm đau chứ không phải để tìm cách trị dứt nọc.
Sau đây là câu chuyện cậu bé Johnny mà người ta cho rằng đó là một trẻ thiểu năng tâm thần. Tuy nhiên sự thực không phải vậy – như bạn sẽ đọc thấy trong câu chuyện này. Hôm đó vào giờ thủ công tại trường dành riêng cho các trẻ em cá biệt, Johnny được phát một cục đất sét để nặng tượng. Cậu đi đến một góc phòng và bắt đầu loay hoay với cục đất sét. Cô giáo bước lại chỗ cậu: - “Chào em Johnny” Johnny cũng đáp lại: - “Xin chào cô”. Cô giáo hỏi tiếp: - “Thế em cầm cái gì trong tay vậy?” Johnny trả lời: - “Thưa cô, một cục phân bò ạh” Cô giáo hỏi: - “Em định làm gì?”. John thưa: - “Em đang nặng hình một cô giáo”.
Cô giáo cho rằng Johnny bị suy nhược thần kinh, nên cô gọi thầy hiệu trưởng – lúc ấy đang đi qua cửa – và bảo: - “Em Johnny này bị chứng suy nhược thần kinh”.
Thầy hiệu trưởng bước tới bên Johnny và chào: - “Chào em, Johnny” Johnny cũng đáp: - “Xin chào thầy”. Thầy hiệu trưởng lại hỏi: - “Em cầm gì trong tay vậy?” Johnny thưa: - “Thưa thầy, một cục phân bò”. “Vậy em làm gì?”“Dạ em đang nặn hình một thầy hiệu trưởng.”
Thầy hiệu trưởng cho rằng đây là trường hợp cần chuyển cho nhà tâm lý nên bảo: - “Hãy gửi em qua bên nhà tâm lý”.
Nhà tâm lý là một tay lọc lõi. Anh ta bước tới và chào: - “Xin chào em”. Johnny đáp: - “Xin chào ông”. Nhà tâm lý bảo: - “Tôi biết em đang cầm cái gì trong tay”. – “Cái gì?” “Một cục phân bò”. “Ông nói đúng”. – “Tôi cũng biết em đang làm cái gì?”“Cái gì?”“Em đang nặn một nhà tâm lý” “Sai rồi. Phân bò đâu còn đủ nữa”. Và thế là người ta cho rằng chú bé này bị thiểu năng tâm thần.
Không thể phủ nhận vai trò tích cực của các nhà tâm lý tội nghiệp của chúng ta. Công việc của họ quả thật cần thiết. Có những giai đoạn à tâm lý trị liệu là một phương thế thần hiệu, bởi lúc bạn sắp sửa mất trí, nổi “điên” thì đó cũng chính là lúc bạn sắp trở thành hoặc một kẻ loạn tâm thần hoặc một nhà thần bí. Đối ngược với một người điên là một nhà thần bí. Bạn có biết đâu là dấu cho biết bạn đã thức tỉnh rồi không? Đó chính là lúc bạn tự vấn: “Phải chăng là tôi điên hay mọi người đều điên?”. Thật vậy đấy. Bởi lẽ chúng ta đều điên. Cả thế giới này đều điên. Cả một lũ điên được chứng nhận! Sở dĩ chúng ta không bị nhốt vào nhà thương điên chỉ là vì chúng ta đông quá. Vâng, mọi người chúng ta đều điên. Chúng ta đang sống bằng những ý tưởng điên rồi về tình yêu, về các mối tương quan, về hạnh phúc, niềm vui và về mọi sự. Chúng ta điên tới mức tôi dám tin rằng nếu như mọi người đều nhất trí về một điều gì đó, bạn có thể cầm chắc là điều đó sai! Mọi ý tưởng với, mọi ý tưởng vĩ đại đều khởi đầu không được mấy ai ủng hộ. Chẳng hạn người được gọi là Giêsu Kitô có mấy ai ủng hộ đâu. Đức Phật cũng thế, có mấy ai ủng hộ đâu. Mọi người đều nói khác với những điều các vị ấy nói. Tôi nhớ đến câu nói của Bertrand Russell: “Mọi ý tưởng vĩ địa đều khởi đầu như một sự phạm thượng”. Câu nói thật hay và thật chính xác. Trong những ngày này bạn sẽ nghe không ít lời phạm thượng. “Hắn đã nói phạm thượng” – người ta đã gào lên như thế bởi họ điên, họ khùng. Và bạn càng sớm nhận ra điều ấy thì tâm thần của bạn sẽ càng khả quan hơn. Đừng tin người ta, Đừng tin cả những người bạn tốt nhất của bạn. Hãy thoát ra khỏi ảo tưởng về những người bạn tốt nhất. Họ khôn khéo lắm đấy. Dù có vẻ bạn không ý thức được nhưng sự thực là bạn đang chơi một canh bạn lớn với mọi người khác nhau. Ái chà, bạn tinh ranh ma mãnh quá. Bạn diễn tuồng y như thật.
Dù có làm bạn khó chịu thì tôi cũng xin nhắc lại là: Bạn chỉ giả vờ muốn thức tỉnh thôi – và chính bạn cũng không hề hay biết rằng mình đang giả vờ. Bạn nghĩ rằng mình đang yêu đấy ư? A ha! Thế bạn đang yêu ai? Ngay cả khi bạn hy sinh bản ngã thì bạn cũng được một cảm giác khoan khoái lắm đấy chứ? Bạn tự bảo: “Ta đang hy sinh chính mình. Ta đang sống theo lý tưởng của ta”. Ý chừng như trong khi hy sinh như thế bạn không đang tìm được một cái gì ấy! Luôn luôn như vậy, hành vi nào của bạn cũng nhằm đem lại cho bạn một cái gì đó – trừ khi bạn thức tỉnh.

Vậy nên, bước thứ nhất là bạn hãy ý thức rằng bạn không muốn thức tỉnh. Thức tỉnh quả là chuyện thiên nan vạn nan khi mà bạn đang bị thôi miên để tin rằng một mảnh giấy báo cũ là một ờ séc một triệu đô la. Làm sao để bứt mình ra khỏi mảnh giấy báo cũ đó cho được đây!


Thức tỉnh - 4. VỀ KHÁT VỌNG HẠNH PHÚC

Tôi đang nói là chúng ta không muốn hạnh phúc. Chúng ta chỉ muốn những thứ khác thôi. Hay có thể nói chính  xác hơn thế này: Chúng ta không muốn một thứ hạnh phúc không điều kiện. Tôi sẵn sàng hạnh phúc miễn là tôi có đủ thứ này thứ nọ. Thực sự thì chúng ta vẫn nói với bạn bè, với Chúa hay với bất kỳ ai là: - “Bạn (Ngài) là hạnh phúc của tôi. Nếu như tôi không có được bạn (Ngài), kể như tôi bất hạnh”. Hiểu ra điều này thật quan trọng hết sức. Chúng ta không thể hình dung một thứ hạnh phúc mà không có điều kiện. Điều này hoàn toàn xác thực. Tôi nhắc lại chúng ta không thể quan niệm một thứ hạnh phúc không có điều kiện. Bởi vì chúng ta đã được giáo dục để đặt hạnh phúc của mình trong những điều kiện.

Cho nên đó là việc phải làm đầu tiên nếu như chúng ta muốn thức tỉnh – hay nói cách khác – nếu ta muốn yêu, muốn có được tự do, niềm vui, bình an và muốn có được mọt linh đạo. Ở đây, ta thấy linh đạo là chuyện thực tiễn nhất giữa muôn vàn chuyện khác trên cõi trần ai này. Tôi dám thách ai nghĩ ra được chuyện gì thực tiễn hơn chuyện linh đạo thao nghĩa là thức tỉnh như tôi đã xác định. Vâng, nó không phải là đạo đức, là tôn sùng, là lòng tín ngưỡng hay sự thờ phượng. Nó chính là sự thức tỉnh. Bạn hãy đưa mắt nhìn sự khổ đau ở khắp nơi. Bạn hãy nhìn nỗi cô đơn, sợ hãi, sự hỗn độn, xung đột nơi tâm hồn con người, cả xung đột nội tâm cũng như ngoại giới. Giả sử có ai giúp bạn để tống khứ mọi thứ trên đi nhỉ? Hoặc giả sử có ai đó chỉ cho bạn cách chế ngự tình trạnh tổn hao năng lực, sức khỏe và tình cảm do những xung đột và hỗn độn nói trên gây ra nhỉ? Bạn có muốn điều đó không? Giá như có ai đó hướng dẫn bạn cách để chúng ta yêu thương nhau thật sự, để chúng ta được bình an, được sống trong tình yêu nhỉ. Bạn nghĩ xem còn gì thực tiễn hơn nữa không? Ấy vậy mà, trong các bạn còn có những người cho rằng mở mang làm ăn lớn thực tiễn hơn, chính trị thực tiễn hơn, khoa học thực tiễn hơn. Thế nhưng, đâu là cái ích lợi thiết thực của việc đem con người lên cung trăng khi mà chính chúng ta không sống được trên trái đất này?

CHUYỆN XƯA CHUYỆN NAY - Trò chuyện triết học - Bùi Văn Nam Sơn

 - Trò chuyện Triết học - 
BÙI VĂN NAM SƠN

Chuyện xưa, chuyện nay
          “Sống đã, triết lý sau” là câu nói luôn luôn đúng, và đó cũng là lý do vì sao không có thần đồng trong lĩnh vực triết học. Trong xu hướng toàn cầu hoá, cuộc sống càng muôn màu muôn vẻ, nhưng không thể hội nhập đầy đủ và an toàn nếu không có kiến thức nền về cội nguồn tư tưởng thế giới. Đó là lý do Sài Gòn Tiếp Thị mở chuyên mục Chuyện xưa, chuyện nay vào số thứ tư hàng tuần, do nhà nghiên cứu triết học, dịch giả Bùi Văn Nam Sơn đảm trách. Có lẽ vì biết rằng chuyển tải những vấn đề triết lý – nhân sinh hóc búa đến với độc giả phổ thông là điều không dễ, ông đã phải rào đón bằng một lời dẫn dài... nguyên trang!

Tư tưởng đổi thay số phận
“Tư tưởng của chúng ta là số phận của chúng ta”
(Arthur Schopenhauer, 1788 – 1860)
          Có lẽ bạn ngán triết học vì nó khô khan, khó hiểu? Bạn ngại triết học vì nó thường tỏ ra áp đặt, giáo điều? Bạn xem thường triết học vì nó mông lung, vô bổ? Xin bạn hãy bình tâm một chút! Họp nhân viên lại, liệu kiến thức chuyên môn đơn thuần có đủ để giúp bạn “động viên” được họ? Bạn vẫn thường phải dùng đến những lời có cánh đó thôi! Giải quyết việc lương bổng hay… đền bù giải toả, chẳng lẽ người ta không một phút thoáng nghĩ đến khái niệm “công bằng”? Dạy bảo con cái đâu có thể chỉ dùng đến hai thứ duy nhất: cho roi cho vọt hoặc cho ngọt cho bùi? Nhìn chung, ta vẫn cứ “triết lý” hàng ngày giống như ông Jourdain luôn miệng làm “văn xuôi” mà không tự biết đấy thôi!
          Triết gia Hegel bảo rằng ta vẫn có thể hô hấp và tiêu hoá mà không cần biết đến môn sinh lý học. Cũng thế, ta vẫn “triết lý” mà không cần đến triết học. Nhưng rồi dần dần, từ công việc trong đời thường, con người đặt câu hỏi về những gì tưởng như hiển nhiên. Từ xa xưa, ở phương Đông cũng như phương Tây, bắt đầu có sự phân biệt giữa những điều “ai ai cũng nói” với những điều một số ít người suy ngẫm lâu dài trước khi đi đến chỗ xác tín. Từ đó, triết học – cũng như mọi khoa học khác – không thể không bước vào “những tháp ngà”, nếu muốn có sự yên tĩnh để suy nghĩ, sự khách quan để nhận định.
          Nhưng, thật ra, nhìn kỹ lại, những tháp ngà ấy ít nhiều đều được xây dựng nên từ những bụi bặm trần gian. Khổng, Lão, Phật, Jesus, Socrate… những nhà tư tưởng lớn đầu tiên của nhân loại đều là những kẻ lữ hành, chia sẻ và lăn lộn trong sự phức tạp khôn cùng của chúng sinh. Rồi cũng dần dần, triết học lại rời khỏi “tháp ngà”, đi vào cuộc đời để thực hiện các sứ mệnh của mình… Có khi thành công, có khi thất bại. Có khi tạo phúc, có khi gây hoạ. Và, cũng vì thế, nó luôn phải nhìn lại chính mình, tự phê phán, tìm con đường khác, phương thức mới…

Triết học trong cuộc sống ngày nay
          Đời sống sôi động và cuộc cạnh tranh toàn cầu đầu thế kỷ 21 cho thấy: hơn bao giờ hết, thành bại, mất còn ngày nay phụ thuộc vào sáng kiến, ý tưởng và các chiến lược tư duy. Khi thế giới ngày càng… phẳng, khi thông tin, sự đào tạo và kỹ năng ngày càng đến được với mọi người, kiến thức thông thường không còn là lợi thế cạnh tranh nữa. Phương pháp, kể cả phương pháp mới, cũng không đủ giúp tạo nên lợi thế. Mạng lưới truyền thông toàn cầu nhanh chóng biến nó thành tài sản chung của mọi người!
          Vậy, chính tiềm lực trí tuệ, văn hoá tư duy, thái độ tinh thần được tích luỹ và tinh luyện của một cá nhân, một dân tộc, một nền văn hoá mới tạo nên được sự khác biệt trong những giờ phút quyết định. Chúng giúp mang lại sự sáng tạo trên nền tảng đạo lý và tỉnh thức.
          Cho đến nay, sự ganh đua về ý tưởng thường chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực kinh tế. Nhưng, sự khác biệt lại ngày càng diễn ra ở những lĩnh vực không ngờ tới. Kinh tế, dù quan trọng đến mấy, chỉ là một phương diện của cuộc sống; chất lượng sống đích thực không thể quy giản vào phương diện kinh tế. Do đó, triết học có thể giúp ta có được những nhận thức để cải thiện chất lượng cuộc sống, đồng thời, cuộc đời và phong cách tư duy của những đại triết gia cũng là những gương mẫu cho ta học hỏi trên nhiều lĩnh vực. “Hình thức cao nhất của thành tựu bao giờ cũng là một nghệ thuật, chứ không phải là khoa học”– người nói được câu ấy là Theodore Lewitt, một tên tuổi lớn trong ngành… tiếp thị!

Gặp gỡ giữa triết học và các hình thức tổ chức cuộc sống
Ta không đến với triết học để tìm ra những giải pháp nhanh chóng, nhất thời mà để phát hiện những con đường xưa nay chưa biết để đi đến giải pháp.
          Điều trước hết cần nói về “nghệ thuật” này: không thể lãnh đạo công việc hay tổ chức cuộc sống bằng triết học. Triết học không phải là công cụ, không phải là phương pháp để chỉ đạo, quản lý. Làm như thế là yêu mà nên tội, làm như thế tưởng là tôn vinh nó mà thật ra là làm hại nó và vô tình làm hại chính mình. Là “công cụ”, nó sẽ giới hạn chân trời hoạt động và bắt con người phụ thuộc vào công cụ. Là “phương pháp”, nó sẽ bắt người theo phương pháp ấy làm tù binh! Trái lại, chỉ có thể từ triết học, tức từ thái độ được nuôi dưỡng bằng tư duy triết học: triết học giống như nhà tư vấn giúp ta có cái nhìn sâu vào hậu trường, vào tất cả mọi hậu trường. Do đó, ta không đến với triết học để tìm ra những giải pháp nhanh chóng, nhất thời mà để phát hiện những con đường xưa nay chưa biết để đi đến giải pháp. Nó là công việc của mỗi người, của riêng mỗi người. Chính trong tinh thần ấy, triết học thường được hiểu… “ba trong một”: triết học như là khoa học khai minh, giúp xoá bỏ những ảo tưởng, định kiến; triết học như là khoa học điều hoà, giúp cân đối mọi lối nhìn; triết học như là khoa học hành động, giúp định hướng cho mọi lựa chọn, quyết định.
          Vậy, nói cụ thể, triết gia làm những công việc gì? Thưa bạn, họ làm giống hệt như chúng ta đang làm trong mọi lĩnh vực, chỉ có điều, với những phương tiện khác mà thôi. Nếu viên chức nhà nước làm việc với những quy định của pháp luật, nhà doanh nghiệp với của cải, tiền bạc, đối tác, người chủ gia đình phải đương đầu với những lo toan thường nhật, tìm những phương cách và phương tiện để giải quyết chúng, thì nhà triết học làm việc với những khái niệm và sự chiêm nghiệm. Nhưng bất kỳ ai cũng đều xoay quanh mấy công việc quen thuộc mà hệ trọng sau đây: hiểu hậu cảnh; quyết định có cơ sở; hành động có trách nhiệm; hoạt động có hiệu quả; truyền thông rõ ràng, sống thanh thản, hạnh phúc.

          Sài Gòn Tiếp Thị dành cho chúng ta một không gian thân mật để hàng tuần trao đổi về các việc làm ấy, ở giác độ triết học. Để đổi không khí, mỗi tuần chúng ta sẽ làm quen với một khái niệm triết học hoặc với một triết gia nổi tiếng. Câu chuyện nghiêm chỉnh nào cũng cần trở nên vui vẻ, và câu chuyện vui vẻ có khi cũng cần trở nên nghiêm chỉnh. Bạn đồng ý thế không? Xin hẹn gặp lại tuần sau.


Bùi Văn Nam Sơn

(Nguồn Báo điện tử sài gòn tiếp thị media, 26.05.2010)



Thức tỉnh - 3. VỀ THỨ ÍCH KỶ ĐÚNG ĐẮN

Điều đầu tiên tôi muốn bạn hiểu, ,nếu như bạn thực sự muốn thức tỉnh, đó là: bạn không thực sự muốn thức tỉnh, đó là: bạn không muốn thức tỉnh. Bước thứ nhất để thức tỉnh là phải dám trung thực để thú nhận là bạn không thích thức tỉnh. Bạn không muốn hạnh phúc. Có nên thử một chút không ? Nào ta làm nhé. Chỉ mất đúng một phút thôi. Bạn nhắm mắt hay mở mắt cũng được. Nào, bạn hãy nghĩ tới người mà bạn rất thương yêu, rất gắn bò và quí trọng. Bạn hãy nói với người đó trong trí của bạn: “Tôi thích có hạnh phúc hơn là có anh”. Bạn hãy xem thử chuyện gì xảy ra. “Tôi thích được hạnh phúc hơn là được anh. Nếu như tôi phải chọn lựa thì không có gì để đắn đo. Tôi sẽ chọn hạnh phúc”. Khi nói như vậy, bao nhiêu người trong các bạn tự cảm thấy mình ích kỷ? Xem chừng đông đấy. Hãy xem ta bị tẩy não cách nào để quyết cho rằng mình ích kỉ đến thế. Hãy nhìn những kẻ ích kỷ theo kiểu nói trên. Nào, bạn hãy tưởng tượng có người nói với bạn: - “Làm sao bạn lại ích kỷ quá đến nỗi bạn chọn hạnh phúc ưu tiên trên tôi?” Cớ gì bạn lại không trả lời ngay cho anh ta: - “Ồ, xin lỗi. Nhưng sao bạn lại ích kỷ quá đến nỗi bạn đòi tôi chọn bạn ưu tiên trên chính hạnh phúc của bản thân tôi?”

Lần nọ, có một phụ nữ đến kể cho tôi nghe khi bà còn bé, ông anh họ là một tu sĩ dòng Tên đã tổ chức một cuộc tĩnh tâm tại một nhà thờ của dòng ở Milwaukee. Mỗi buổi họp, ông đều mở đầu bằng câu: “Tình yêu được thử thách bằng hy sinh. Tình yêu được đo lường bằng xả kỷ”. Thật tuyệt diệu! Tôi hỏi bà ấy: - “Bà có muốn tôi trả cái giá hạnh phúc của tôi để được yêu bà không?” Bà ta đáp: - “Thưa có ạ!” Câu trả lời thật bất ngờ và thú vị! Bà ta sẽ phải trả cái giá hạnh phúc của bà để được yêu tôi – và tôi cũng sẽ trả cái giá hạnh hpúc của tôi để được yêu bà; thế là có hai con người bất hạnh. Nhưng “tình yêu muôn năm” mà!

Thức tỉnh - 2. TÔI SẼ GIÚP BẠN TRONG CUỘC HỒI TÂM NẦY Ư?

Bạn tưởng tôi đang giúp một người nào đây chăng? Ồ, không. Không, không bao giờ. Bạn đừng mong tôi giúp ai, cũng đừng mong tôi hại ai. Giả như bạn bị hại, tự bạn hại mình đấy. Trong trường hợp bạn được giúp, ấy là chính bạ đã giúp bạn. Mọi sự là do bạn định đoạt cả thôi. Bạn tưởng người ta giúp bạn ư? Không phải vậy đâu. Người ta hỗ trợ bạn àh? Bạn lầm rồi đấy.
Lần nọ có mọt chị trong nhóm tâm lý trị liệu tôi đang hướng dẫn – là một nữ tu – đến nói với tôi: - “Con cảm thấy như bề trên con không nầng đỡ con”. Tôi hỏi: - “Chị nói thế nghĩa là sao?” Chị trả lời: - “Bề trên con – mẹ giảm tỉnh – chẳng bao giờ tới cái tập viện mà con đang phụ trách. Chẳng bao giờ cả. Con cũng chẳng bao giờ nghe được một lời khích lệ nào của bề trên”. Tôi bảo chị ấy: - “Thôi được, ta thử chơi trò ‘thủ vai’ một chút nhé. Giả bộ như tôi biết rõ mẹ giảm tỉnh của chị và cứ cho là tôi biết rõ bà ấy đang nghĩ gì về chị. Tôi sẽ nói với chị thế này (trong vai mẹ giám tỉnh): Này chị Maria, chị cũng hiểu lý do mẹ không đến chỗ chị ở là vì đó là một nơi trong tỉnh dòng không có chuyện rắc rối, không có vấn đề. Mẹ biết chị đang trách nhiệm ở đó nên mọi việc đều tốt đẹp cả. Sao, lúc này chị cảm thấy thế nào?” Chị ấy đáp: - “Dạ, con cảm thấy phấn khởi lắm ạ” Tôi bảo chị ấy: - “Thôi được, bây giờ phiền chị ra khỏi phòng ít phút, chúng ta vẫn đang tiếp tục phần thực hành”. Chị ấy đi ra. Và khi không có chị ở đó, tôi nói với những người khác trong nhóm tâm lý trị liệu: “Tôi vẫn là mẹ giám tỉnh đấy nhé! Chị Maria ngoài kia là chị giám tập tệ nhất mà tôi đã gặp trong suốt lịch sử của tỉnh dòng. Thật sự tôi không đến nhà tập đó chỉ vì tôi không thể nhịn được khi nhìn những việc chị ấy làm. Bê bối hết sức! Song tôi đã không cho chị ấy biết sự thật vì điều ấy chỉ tổ làm cho các tập sinh ở đó phải khổ hơn thôi. Chúng tôi đang kiếm người thay thế chị ấy trong một hay hai năm nữa. Chúng tôi đang huấn luyện cho người đó. Thơi gian này tôi nghĩ tôi cần nói những diều tốt đẹp với chị ấy để giúp chị ấy tiếp tục làm việc. Quý vị nghĩ thế nào về chuyện này?” Họ trả lời: - “Chà. Trong hoàn cảnh đó mẹ chỉ làm được như vậy thôi”. Sau đó tôi đưa chị Maria trở lại nhóm và hoi chị ấy còn vui không. Chị ấy nói: - “Thưa còn ạ”.
Chị Mary thật tội nghiệp. Chị nghĩ chị đang được nâng đỡ trong khi sự thực đâu phải thế. Mấu chốt vấn đề nằm ở chỗ phần lớn những điều chúng ta cảm nhận hay tưởng nghĩ chính là do chúng ta đã tự vẽ lên trong đầu mình. Kể cả ý tưởng rằng người nầy người nọ đang giúp đỡ mình.
Sao, bạn tưởng bạn giúp người ta vì bạn thương họ chăng? Nếu vậy, tôi có tin nầy để mách bạn đây. Chưa bao giờ bạn yêu ai, Đúng hơn, bạn chỉ yêu những định kiến đầy ngưỡng vọng về người đó. Bạn hãy dành ra một phút để suy nghĩ về điều nầy đi: Bạn chưa bao giờ yêu ai, bạn chỉ yêu những định kiến của bạn về người đó. Kinh nghiệm đã chẳng cho bạn thấy rằng mọi đổ vỡ tình cảm đều bắt nguồn từ chỗ người ta không còn suy nghĩ như trước nữa đó sao? Bạn phàn nàn người nào đó: - “Tôi đã tin anh đến thế, sao anh nỡ nhẫn tâm phụ tôi?” Bạn tin anh ta thật àh? Không phải đâu. Bạn chưa bao giờ tin ai cả. Đừng lẩn quẩn nữa. Đó chẳng qua là sự tẩy não của xã hội mà thôi. Tôi nhắc lại là bnạ không bao giờ tin ai cả. Bạn chỉ tin sự phán đoán của mình về người ấy. Thế thì bạn còn phàn nàn anh ta nữa không? Thực tế chỉ vì bạn không dám nói: “Phán đoán của tôi dở thiệt!” – bởi nói như vậy thì không thỏa mãn tự ái của bạn – nên bạn thích nói như thế này hơn: “Sao anh lại nhẫn tâm phụ tôi như vậy?”.
Thì ra, vấn đề là ở chỗ người ta không thật sự muốn lớn lên, không thật sự muốn sửa đổi, không thật sự muốn hạnh phúc. Như có người đã nói với tôi cách từng trải hết sức: - “Đừng cố tạo cho người ta hạnh phúc. Bạn chỉ chuốc lấy rắc rối thôi. Đừng cố dạy cho một con heo hát. Chỉ tổ mất thời giờ và chọc tức con heo”. Y như người thương gia nọ bước vào một quán rượu và thấy gã kia có quả chuối nhét nơi tai. Vâng, một quả chuối nhét nơi tai! Ông ta nghĩ: - “Chà, không biết mình có nên nhắc hắn điều đó chăng. Mà thôi, không phải việc của mình”. Song ý nghĩ trên cứ mè nheo ông ta mãi nên sau khi uống một hay hai ly, ông ta lên tiêng: - “À, xin lỗi. Anh có một quả chuối nhét nơi tai ấy”. Gã kia đáp: - “Sao, ông nói sao?” Ông ta lặp lại: - “Anh có quả chuối nhét nơi tai”. Gã kia lại hỏi: “Ông nói gì vậy?” Người thương gia hét lên: - “Anh có quả chuối nhét nơi tai ấy!” Gã kia bảo: - “Ông la to nữa đi. Tôi có quả chuối nhét nơi tai”.

Quả là công dã tràng. Tôi tự nhủ: “Thôi, thôi, chào thua”. Bạn hãy nói về chuyện của bạn và đừng vấp vào trường hợp kể trên nhé. Rồi nếu người ta có rút ra được gì thì đáng mừng, bằng không thì đành chịu chứ biết làm sao.

Thức tỉnh - 1. VỀ VIỆC THỨC TỈNH

Linh đạo nghĩa là đánh thức. Đa số con người ta chỉ lo ngủ, mặc dù họ không ý thức điều này. Lúc nào họ cũng ngủ: sinh ra, sống, cưới vợ lấy chồng, nuôi con và chết đi cũng ngủ mà không hề biết thức là gì. Họ không bao giờ hiểu được nét tôn quí của điều mà chúng ta gọi là sự hiện hữu của con người. Bạn nên nhớ, tất cả các nhà thần bí dù là Công giáo hay tôn giáo nào khác, bất chấp thần học của họ là gì, bất chấp tín ngưỡng  của họ ra sao – họ vẫn hoàn hoàn nhât trí với nhau được ở một điểm: mọi sự đều tốt đẹp, đều hay. Dù cho mọi sự có là một mớ hổ lốn đi nữa, chúng vẫn tốt đẹp. Thật nghịch lý lạ lùng như vậy đấy. Nhưng bi đát thay, phần lớn con người vẫn không bao giờ thấy được mọi sự là tốt đẹp bởi họ chỉ lo ngủ. Họ đang chìm trong một cơn ác mộng.
Năm ngoái, trên đài truyền hình Tây Ban Nha, tôi nghe kể câu chuyện thế này: Có một vị nọ gõ cửa phòng của con trai ông. Ông ta gọi: - “Jaime. Dậy đi!” Jaime đáp lại: “- Bố ơi, con không muốn dậy đâu”. Ông bố hét: - “Dậy đi, mày phải đi học”. Ông bố hỏi: - “Sao lại không muốn, con?”. Người con giải thích: - “Có ba lý do, bố ạh. Trước hết, nó quá đơn điệu, chán phè. Hai nữa, lũ trẻ chúng giễu con. Và thứ ba là con ghét đi học”. Ông bố bảo: - “À, nếu thế thì bố sẽ cho con biết ba lý do mà con phải đi học. Trước hết, vì đó là bổn phận của con. Hai nữa, vì con đã 45 tuổi đầu rồi. Ba nữa, vì con là hiệu trưởng”
Dậy đi, dậy đi. Bạn đã lớn rồi. To xác rồi đừng ngủ nướng nữa. Dậy đi, đừng chơi trò con nít nữa.
Rất nhiều người bảo với bạn là họ muốn thoát ra khỏi vườn trẻ, nhưng bạn đừng tin họ. Tôi nhắc lại bạn đưng tin họ. Họ chỉ mong bạn sửa chữa dùm họ những món đồ chơi bị hỏng, chứ không mong muốn gì khác hơn đâu. “Hãy trả vợ tôi lại cho tôi. Hãy trả nghề nghiệp của tôi lại cho tôi. Hãy trả lại cho tôi tiền bạc, thanh danh, sự nghiệp của tôi”. Đây là điều họ muốn: họ muốn đổi mới các món đồ chơi của họ, và họ chỉ muốn có vậy. Thậm chí là cả nhà tâm lý học giỏi nhất cũng muốn sẽ xác nhận với bạn là người ta không thực sự muốn được chữa lành hẳn, mà chỉ muốn xoa dịu thôi, bởi việc chữa lành hẳn bắt họ phải đau đớn hơn nhiều.
           Bạn thấy đó, thức tỉnh không phải là chuyện dễ chịu lắm đâu. Đang êm ái thoải mái trên giường, bị lôi đậy bạn cũng dễ nổi cáu lắm chứ. Chính vì thế mà các bậc thầy không ngoan ở Ấn Độ quyết không cố thức tỉn người ta dậy. Phần tôi, hy vọng là tôi cũng sẽ khôn ngoan trong vấn đề này và không cố làm điều gì khiến bạn phải thức dậy nếu như bạn đang ngủ say giấc. Ồ! Mà thật đó cũng chẳng phải là việc của tôi cho dù đôi lúc bạn cũng nghe tôi gọi: “Dậy đi”. Tôi chỉ hát bài tôi phải hát và nhảy điệu tôi phải nhảy. Bạn tận dụng được thì  hay. Còn không thì dở lắm đấy! Như người Ả rập thường nói: “Mưa nào mà chẳng là mưa; song mưa làm gai góc mọc lên trong đầm lầy và mưa cũng sẽ khiến hoa nở khắp vườn”.

Thức tỉnh - Anthony De Mello, S.J

Thức tỉnh - Anthony De Mello, S.J

Nguyên tác: AWARENESS
Tác giả: Anthony de Mello, S.j.
NXB: Image Books - Doubleday

Lời tựa

Một dịp nọ đang quây quần giữa các bạn bè người ta yêu cầu cha Tony de Mello phát biểu ít lời về tính chất của công việc cha đang đảm nhiệm. Cha đứng lên, kể một câu chuyện mà sau này cha vẫn hay nhắc lại trong các cuộc trao đổi – và các bạn cũng sẽ đọc thấy nó trong cuốn “Song of the Bird” của Cha. Còn tôi, tôi phải giật mình chăm chú theo dõi vì cha bảo câu chuyện này cũng nhằm đặc biệt để nói với tôi:
Có người nọ nhặt được quả trứng đại bàng, đem bỏ vào ổ gà đang ấp trong chuồng. Chú đại bàng con nở ra và lớn lên cùng lứa với đàn gà con.
Cứ thế suốt đời đại bàng con chỉ làm những việc mà lũ gà vẫn làm, và cứ tưởng mình là một gà con. Nó cũng bới đất tìm sâu bọ, cũng kêu lên cục tác như các ả gà mái và cũng quen đập cánh bay lên cao chừng hơn nửa thước. Thời gian thấm thoát trôi, đại bàng ta rồi cũng già. Bữa kia, nó trông thấy một con chim tuyệt đẹp bay phía trên nó trong bầu trời lồng lộng thênh thang. Với dáng vẻ uy nghi dũng mãnh, cánh chim ấy nhẹ nhàng băng giữa cuồng phong, chỉ lâu lâu mới khẽ vỗ nhịp đôi cánh vàng mạnh mẽ của mình. 
Đại bàng ta nhìn lên kinh hãi. Nó hỏi “cái gì vậy?”. Một bạn gà của nó trả lời: “Đó là đại bàng – vua của các loài chim. Đại bàng thuộc về trời cao, còn bọn mình thuọc về mặt đất. Bọn mình chỉ là loài gà”. 
Cứ vậy, đại bàng ta sống và chết như một chú gà vì nó vẫn đinh ninh mình chỉ là gà.
Tôi sửng sốt thật sự vì thoạt tiên cảm thấy như mình bị tát thẳng vào mặt. Không phải là cha đã công khai so sánh tôi với chú gà nuôi trong chuồng đó sao? Nghĩ kỹ về một phương diện nào đó thì cũng đúng – mà cũng không đúng. Song sỉ nhục tôi thì cha không bao giờ - bởi đó không phải là lối của cha. Điều cha uốn nói là dưới mắt cha, tôi là một chú đại bàng “thứ thiệt” thế mà vẫn chẳng hay biết gì về những tầm cao mà mình có thể bay tới. Và câu chuyện trên đã khiến tôi hiểu cái tiêu đề chuẩn mà cha đánh giá sự vật, cũng như hiểu được tình yêu và sự kính trọng chân thành của cha đối với con người trong khi cha vẫn luôn khẳng khái nói lên sự thật. Thức tỉnh người ta về sự cao cả đích thực của họ, đó chính là tất cả công việc của cha. Quả thực Cha Tony De Mello đã chứng tỏ sở trường của ngài trong việc trình bày tiếng gọi “thức tỉnh”, trong việc giúp người ta nhận ra ánh sáng nơi chính mình để tự soi giọi cho mình và cho người khác; đồng thời cha cũng vạch cho họ thấy rằng họ không hèn kém như họ tưởng.
Tác phẩm này là một góp nhặt từ những đối thoại và những chia sẻ có thật của cha Tony, bao trùm nhiều đề tài mà qua đó cha đã đốt nóng lên tâm huyết của những người lắng nghe cha.
Sau khi cha qua đời tôi phải đảm nhận công việc ghi lại và phổ biến cái tinh thần hàm chứa trong những lời chia sẻ của cha, đồng thời giữ vững cho được nét ung dung tự tại của cha trước một độc giả vốn rất sẵn sàng phản ứng,
Tôi cũng xin cảm ơn các vị như George Mc Cauley, S.J., Joan Brady, John Culkin và rất đông những vị khác nữa đã nhiệt tình cộng tác để những giây phút thú vị, vui vẻ và sôi nổi mà cha Tony trước đây đã dành để chia sẻ với những con người thật – lại được bắt gặp cách lạ lùng nơi những trang sách này.
Xin bạn hãy thưởng thức cuốn sách này. Hãy để cho những lời của cha thấm vào tâm hồn bạn, và bạn hãy lắng nghe như cha Tony gợi ý bằng cả trái tim của bạn.
Bạn hãy nghe những câu chuyện của cha Tony và bạn sẽ thấy vọng lại những câu chuyện của chính bạn. Bạn cho phép tôi để bạn lại một mình với cha Tony. Bạn sẽ tìm thấy nơi ngài một vị linh hướng và một người bạn tri kỷ trong đời.

J. Francis Stroud, S.J
Trung Tâm Linh Pao De Mello
Đại học Fordan
Brox, NewYork.

Newer Posts Home

Popular Posts

Quotation

Mưa nào mà chẳng là mưa; song mưa làm gai góc mọc lên trong đầm lầy và mưa cũng sẽ khiến hoa nở khắp vườn

Đừng cố dạy cho một con heo hát. Chỉ tổ mất thời giờ và chọc tức con heo

“Tư tưởng của chúng ta là số phận của chúng ta” (Arthur Schopenhauer, 1788 – 1860)

Thế nhưng, đâu là cái ích lợi thiết thực của việc đem con người lên cung trăng khi mà chính chúng ta không sống được trên trái đất này?

Một vị thánh là một vị thánh cho tới khi vị ấy biết mình là một vị thánh

Total Pageviews

Followers


Recent Comments